ĐỖ CHU

ĐỖ CHU – THĂM THẲM BÓNG NGƯỜI (Tùy bút)
NXB Hội Nhà văn, 2008.
(Cuốn sách này được em Lê Văn Hợp tặng, khi tìm thấy nó trong kho Sách cũ Hà Thành)
Những khi tôi không biết dùng từ gì để tả điều mà mình yêu thích, thì hay dùng từ “khủng khiếp”, với cuốn sách này tôi cũng nói vậy “hay khủng khiếp”. (Có thể do tôi cảm tính)
Ông xã bảo: “Anh không thể đọc thể loại dài dằng dặc như này mà không có đối thoại, nó cứ lan man từ đầu sách đến cuối sách.”. Vậy mà tôi mê nó lắm, tôi thấy nó như một bản trường ca, cứ âm thầm tuôn chảy từ trang nay qua trang khác, qua cả những năm tháng lịch sử như những dây leo bờ giậu, bờ rào quấn quýt rễ ăn đến đâu là lan đến đó, ở khắp mọi chốn mọi nơi, hết đời này sang đời khác chúng vẫn còn đó. Với những bóng người có sức lay động mạnh, lan tỏa theo năm tháng gắn bó với vận mệnh đất nước.
Một số trích đoạn phần một – Hoa bờ giậu
“Tôi chưa bao giờ quên anh, chưa bao giờ quên cái đêm hai anh em đã ngồi trong quán nghèo sau lũy tre già của một thị xã trung du. Một mái lá xa xa gần gần. Những bóng người thấp thoáng, những bóng tháng năm thấp thoáng tôi gặp tôi đi.” Trg 18,19.
“Lịch sử một dân tộc chính là đời sống của dân tộc đó, nó giống như một tảng băng đang trôi ngoài khơi, cái phần nổi dù lớn đến đâu cũng chưa là bao so với phần chìm trong nước, phần chìm trong nước chính là phần lịch sử đang năm trong trí nhớ của nhân dân, cái đó mạnh hơn và lâu bền hơn mọi bộ sử đã có và sẽ có.
Trí nhớ của nhân dân là kho lẫm tiềm tàng đời này qua đời khác, đến một lúc lịch sử hóa thành giai thoại, hóa thành huyền thoại cổ tích, hóa thành tượng đồng, bia đá nghìn thu còn đứng đó, nằm đó, và loài hoa bờ giậu bò, bấu bám lên đó ngày tháng điểm tô.” Trg 22
“Anh Quý gặp người ở quê hương qua, đứng trước một vùng đất vùng người xa lạ tránh sao khỏi ngỡ ngàng lúng túng, vậy mà anh bước tới chủ động hỏi, liệu toi có thể giúp được gì cho anh cho chị không? Rất nhiều người thấy thế thì vui mừng cảm kích khôn xiết, nhưng không ít người đã giật thót người lùi lại, đã quen đề cao cảnh giác, đã quen bị lừa bị trấn lột, đã quen tóm cẳng lôi nhau cùng chìm, đến lúc đứng trước cái thiện, cái đẹp không khỏi hoang mang.
Anh Quý là một kỷ niệm ấm áp trong chuyến đi ngắn ngủi của tôi trên đất Thái. Về đến nhà rồi tôi vẫn đang còn nghĩ mãi cái hạt giống Việt là anh mang reo trên đất Thái mà thành ra anh hôm nay để tôi được gặp. Đây không phải là lai ghép mà là nuôi dưỡng. Chính đó là điều tôi muốn nói ra mỗi khi nhớ đến anh.
…Những cánh rừng nhiệt đời trùng điệp, bát ngát ruộng vườn, hào phóng hoa trái, mái nhà sàn ẩn hiện, tháp chùa ẩn hiện gợi đến dáng những chiếc mũ đội trên đầu các vũ nữ buông váy bước ra khoan thai trong tiếng nhạc thánh thót và tiếng nhạc với những khúc thức nghe càng lâu càng thấm một vẻ đẹp u hoài, một lời rủ rê trìu mến miên man.” Trg 41-42

Nối tiếp đoạn thơ của cố nhà thơ Phạm Tiết Duật: “Em gái đi các anh ở lại, Biết bao giờ mới gặt được em đây, Thôi em đừng bẻ đốt ngón tay, Nước mắt dễ lây mà rừng thì lặng quá, Anh biết rồi bao nhiêu vất vả, Tháng năm dài cùng nhau đi qua…
Mỗi lần rời nơi ấy ra về, tới cửa rừng tôi đều ngoái lại rất lâu, núi ấy, rừng ấy, anh em đồng chí tất cả đang còn trong đó. Những con đường đang mở, những bãi bom đang cháy, những cơn sốt rét của miền rừng Xavanakhét, tiếng Lào nghĩa là con quỷ nước. Mùa khô đến những bào thai chiến dịch cựa quậy, những đoàn quân vượt qua cái đói mà đi, dũi đất mà đi như những con xuyên sơn dũi núi.” Trg 54-55
“Mùa này quê anh nước sông Hồng đang tràn lên xô đẩy khắp các bờ bãi. Đường về nơi mẹ sinh anh có qua một con đò, xa xa trên những ngọn đồi là những bãi cọ xanh um tán lá, những cây cọ thân thẳng đứng như một rừng bút soi mình xuống dòng sống đỏ nựng phù sa, sự thực đấy cũng chỉ là nói cho văn vẻ chứ tôi từ nhỏ vẫn chỉ thấy nó, dòng sông ấy chỉ là một dòng sông bùn, quanh năm bùn.
Những năm tháng này, những con đường này, những đồng tiền ta đang cầm trong tay đây và những trang sách ta đọc và những trang sách ta viết, hết thảy ướt đẫm hơi bùn của dòng sông muôn thuở ấy.” Trg 63

“Với chúng tôi và với nhiều bạn hữu khác, ông Kim Lân không bao giờ mất. Đây chẳng qua cũng chỉ là một chuyến đi xa, rát xa mà thôi. Với chúng tôi ông cụ vẫn đang còn ngồi đó, một vóc dáng nhỏ thó lom nhom chứa đựng một sinh linh sống động, một nhân cách khoan hòa mà hết sức vững vàng cứng cỏi, một cuộc đời từng trải khiến ta phải thèm muốn.” Trg 74
“Ông Bách cười lớn, hai mắt nhắm tít, rồi ông đứng dậy với chai rượu cúc trên tủ, tìm hai chiếc chén hạt mít, men sứ trắng ngà màu hạt mít luộc, thành chén dựng gọi là chén đông ẩm. Ông thong dong thả từng giọt rượu vào chén, mùi rượu bay lên thoang thoảng như mùa thu vẫn còn lưu luyến ở quanh đây. Những người sành như hai ông hiểu đây là mùi rượu Hoàng tửu.
Thầm hẹn mỗi bận thu sang lại về cùng ngoòi với nhau uống rượu thưởng hoa, những đài cúc vàng đã được bứng lên chậu gốm, đặt lên cái kỷ có từ thời vua Thành Thái vi hành ra Bắc. Còn vò rượu nếp cái hoa vàng thì đã được ủ hương cúc từ những mùa năm trước. thế gọi là Thu ẩm hoàng hoa tửu… ” Trg 79-80

“Sinh thời nhà văn Nguyễn Minh Châu đã từng thốt lên, bọn ta viết văn, ông cụ viết văn, cũng thì nhà văn mà sao ta lấm láp còn ông cụ lại sang trọng đến thế. Ngồi lê bên vỉa hè Cổ Tân cùng anh em uống vại bia hơi với đĩa lạc thối bán kèm theo tích kê vậy mà xung quanh ai nấy đều vui vì sự có mặt của ông, người ta há miệng chầu hẫu nghe ông cụ nói, mà chả có chuyện nào, nhiều chuyện ai cũng có thể nghe được ở ngoài đường nhưng nó chỉ thành văn chương một khi được ông cúi xuống thong thả nhặt bỏ vào cái túi vải thô suốt đời xách theo mình. Đấy là ổng quyển, là một cẩm nang chứa đựng những bí mật không ai có thể giải mã.
…Trong một thế giới của riêng mình, trong một không gian rộng nhiều chiều Nguyễn Tuân vẫy vùng bay lượn. Những trang sách của ông viết ra có mang những giá trị trường tồn để giờ đây nhìn lại chúng ta nói ông là một giá trị trường tồn.
Ở đời không có gì mong manh bằng những tờ giấy trắng, nhưng một khi những tờ giấy kia được những người tài ba như ông đụng vào, đặt bút vẽ ngoằn ngoèo rối mù những chữ là chữ, ấy là lúc nó đã mang một vẻ đẹp trí tuệ bền vững, rất khó hủy diệt. Đem đốt không cháy, dìm xuống nước không rã, đâm xé không rách. Đấy mới thực là văn chương, chỉ như thế mới đáng mặt để được gọi là một nhà văn đúng nghĩa cao quý của từ đó.” Trg 82-83-84

“Bây giờ thì anh đã đi rồi, ra đi ôm một khối u trong lòng mà mấy ai đã biết, ra đi trong nỗi đau chỉ mình anh chịu, không một lời than thở, không một tiếng rên, cứ nuốt vào lòng thế, cứ bình thản thế mà đi. Từ buổi cùng đoàn vệ quốc quân ngược lên Việt Bắc nhớ về Hà Nội người ấy đã từng viết Mái buồn nghe sấu rụng. Những mái ngói xô nghiêng rêu phong của ba mươi sáu phố phường nghe hay chính lòng người ấy nghe.
Những trái sấu thảng thốt rơi trên mái làm lòng ta bâng khuâng vì hiểu rằng mùa thu đang về. Mùa thu năm nay là một mùa thu nặng nề đối với mỗi người cầm bút trước sự rơi xuống của một trong những trái cây cuối cùng một mùa văn học kháng chiến. Sự ra đi của anh Chính Hữu, một đại biểu xuất sắc của văn học đương đại Việt Nam là sự ra đi mng theo ý nghĩa đó.” Trg 130-131
Phần hai – Thăm thẳm bóng người
“các anh là những người không đơn giản. Không đơn giản thì rất khó quên quá khứ. Những người như thế mỗi ngày sống của họ đều đầy ắp kỷ niệm, thăm thẳm bóng người, là những người giàu có trên phương diện tinh thần. Mỗi ngày của họ là một dòng kinh thánh, là một hơi thở nhẹ của Phật trên đài sen.” Trg 163
Đoạn nhạc sĩ Hoàng Tạo trong đợt hàng quân tiến vào giải phóng miền Nam đi qua Quảng Ngãi vùng quê của nhạc sĩ. Ông đã gặp lại mẹ và chị gái: “…Hoàng Tạo vẫn cứ đứng đó như bị đinh đóng giữa đường, hai bàn tay nắm chặt để trước bụng như đang bị trói và anh khóc, ngày hôm đó chính người nhạc sĩ đã khóc chứ lại không phải hai người đàn bà. Ôi những người đàn bà Quảng Ngãi, những người đàn bà lớn lao, có bao nhiêu yêu thương dịu dàng đều đã trút cả cho con em của họ. Họ đâu có cần biết con cái họ đã làm công việc cụ thể gì trong quân ngũ dù là cấp bậc gì, ông nọ bà kia gì thì tất cả vẫn mãi mãi chỉ là những đứa con, đứa em của họ mà thôi. Những đứa con, đứa em luôn nhỏ bé, bao giờ cũng nhỏ bé…”
Lời người đã từng góp một tay giúp Bùi Quang Thận trong việc cắm cờ trong thời khắc cỗ máy đất trời chuyển động, nhìn thấy một nửa dân tộc mình trở về trong một ngày Tổ quốc hoàn toàn thống nhất. Là một nhân viên phục vụ ở phủ Tổng thống, sau này sống ở Mỹ và vẫn hay kể chuyện như một kỷ niệm đẹp. “Ông ta nói giành độc lập tự do rồi, lại phải lo sử dụng được độc lập tự do, độc lập làm sao ích nước lợi dân, giành là một việc, dùng nó như thế nào lại là một việc, cũng không thể bảo việc nào khó hơn việc nào, hình như là cả hai việc đều rất khó. Có độc lập tự do mà không biết sử dụng nó cho đúng cho tài thì trước sau cũng lại để mất, có nhiều cách đánh mất độc lập tự do.”
(Còn phần ba)

4 Comments

  1. Thương Lò Thị

    Ôi trời, tưởng nó khen sách hoá ra ảnh chụp cuốn sách.

    Reply
    1. Trinh Tuong Giang

      Khen sách thì phải tìm đến tác giả mới khen đc!

      Reply
  2. Linh Nga Niê Kdam

    Ôi bình thế mới là người yêu sách đấy. Cho cô đi

    Reply
    1. Thương Lò Thị

      Cháu sẽ tìm mua 1 cuốn khác để tặng cô. Cô cứ inbox địa chỉ để cháu gửi cho cô nhé.

      Reply

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *